Nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp
Nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp rất đa dạng, có thể liên quan đến tổn thương tim mạch, đường hô hấp trên hoặc dưới, tổn thương thần kinh, sinh non, ngạt trong thai kỳ hoặc hội chứng hít nước ối… Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh có thể đe dọa tính mạng, vì vậy việc xác định nguyên nhân và xử trí kịp thời là rất quan trọng.
1. Các nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp
Nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ theo tổn thương ở các cơ quan của cơ thể:
1.1 Nguyên nhân do Tim mạch
Ở trẻ em, một số tổn thương tim bẩm sinh làm tăng nguy cơ suy hô hấp:
- Tổn thương thông nối từ phải sang trái hoặc máu trộn với lưu lượng phổi bình thường hoặc tăng, bao gồm: chuyển vị động mạch chủ và động mạch phổi, tứ chứng Fallot với tắc nghẽn đường ra phổi nhẹ, hồi lưu tĩnh mạch bất thường chung, thân động mạch chủ, hội chứng tim trái thiểu sản.
- Tổn thương thông nối từ phải sang trái kèm giảm lưu lượng máu phổi, bao gồm: hẹp động mạch phổi, tứ chứng Fallot kèm tắc nghẽn đường ra phổi đáng kể, hẹp động mạch phổi nặng, hẹp van ba lá, tâm thất đơn độc kèm hẹp động mạch phổi, dị tật Ebstein, tăng huyết áp phổi dai dẳng.
1.2. Suy hô hấp do các vấn đề của đường hô hấp trên và dưới
Nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp do các vấn đề ở đường hô hấp trên hoặc dưới:
- Đường hô hấp trên: Bao gồm tắc nghẽn hoặc hẹp lỗ mũi sau, hẹp khí phế quản, thanh quản, tắc nghẽn do chèn ép, hội chứng Pierre Robin, và dị tật khí quản – thực quản.
- Đường hô hấp dưới: Gồm hội chứng suy hô hấp, thở nhanh thoáng qua ở trẻ sơ sinh, hít phải phân su, viêm phổi, tràn khí màng phổi, thoát vị hoành bẩm sinh, thiểu sản phổi, dị dạng nang phổi và thiếu hụt bẩm sinh protein surfactant B hoặc C.
1.3. Một số nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp khác
Ngoài các nguyên nhân liên quan đến tim và phổi, suy hô hấp ở trẻ em còn có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác.
- Nguyên nhân thần kinh: Bao gồm xuất huyết nội sọ, tăng áp lực nội sọ, sử dụng thuốc an thần quá liều, liệt cơ hoành, bệnh thần kinh cơ hoặc rối loạn co giật.
- Rối loạn máu: Tăng methemoglobin, đa hồng cầu, thiếu máu nặng.
- Rối loạn chuyển hóa và nhiễm trùng: Bao gồm rối loạn cân bằng acid-base, tăng amoni máu, sốc giảm thể tích máu và nhiễm trùng huyết.
- Trẻ sơ sinh và sinh non: Độ thẩm thấu mao mạch phổi tăng khiến huyết tương và tế bào máu thoát vào phế nang, dẫn đến dịch phế nang chứa nhiều tế bào hồng cầu và fibrin. Trẻ có thể bị ngạt trước khi sinh, tế bào phế nang thiếu oxy và không sản xuất đủ surfactant, gây xẹp phế nang và khó thở.
- Nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp do hội chứng hít nước ối: Trẻ bị ngạt trong bào thai có thể thở sớm, vô tình hít phải nước ối trước khi chào đời, làm tăng nguy cơ suy hô hấp.

2. Làm gì để phòng ngừa nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh
Để phòng ngừa các nguyên nhân gây suy hô hấp ở trẻ sơ sinh, mẹ bầu và gia đình cần chủ động thực hiện các biện pháp chăm sóc trước và sau sinh sau đây:
- Tiêm corticosteroid (betamethasone hoặc dexamethasone) cho mẹ có nguy cơ sinh non từ 24–34 tuần để giúp phổi thai nhi phát triển tốt hơn.
- Dự phòng chất hoạt động bề mặt cho trẻ sinh non dưới 30 tuần nhằm giảm nguy cơ suy hô hấp và tử vong.
- Duy trì cân bằng dịch – điện giải cho trẻ, ngừng cho ăn khi nhịp thở trên 60 lần/phút để tránh sặc.
- Giữ môi trường ấm, nhiệt độ ổn định giúp trẻ giảm tiêu hao năng lượng và oxy.
- Mẹ bầu duy trì cân nặng hợp lý, không dùng rượu bia, thuốc lá, chất kích thích.
- Khám thai định kỳ, khám tiền sản và sàng lọc trước sinh đầy đủ.
- Kiểm soát tốt các bệnh lý nền như tăng huyết áp, tiểu đường.
- Tiêm vaccine đầy đủ trước và trong thai kỳ để phòng bệnh truyền nhiễm

Suy hô hấp ở trẻ sơ sinh là thách thức về chẩn đoán và điều trị. Biểu hiện của bệnh thường kèm theo thở nhanh và nhịp thở trên 60 nhịp/phút. Với tình trạng trên sẽ dẫn đến co kéo lòng ngực, phồng mũi và tím tái. Vì vậy, việc xác định chính xác nguyên nhân trẻ sơ sinh bị suy hô hấp giúp bác sĩ xử trí kịp thời và tránh được những ảnh hưởng nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.
Nguồn tài liệu tham khảo: AAFP, Msdmanuals




















