Cường giáp khi mang thai ảnh hưởng đến mẹ và thai nhi thế nào?
Cường giáp khi mang thai là một rối loạn nội tiết không hiếm gặp nhưng dễ bị bỏ sót do các triệu chứng có thể nhầm lẫn với sự thay đổi sinh lý thai kỳ. Vậy bị cường giáp khi mang thai có nguy hiểm không, nó ảnh hưởng như thế nào đến mẹ và thai nhi?
1. Cường giáp thai kỳ có nguy hiểm không? Cường giáp khi mang thai có ảnh hưởng gì đối với người mẹ?
Trong 3 tháng đầu của thai kỳ, thai nhi phụ thuộc hoàn toàn vào chức năng tuyến giáp của người mẹ. Đến 3 tháng giữa, thai nhi có thể tự sản xuất hormon giáp nhưng vẫn cần phụ thuộc một phần vào lượng iod mà mẹ ăn vào. Khi mẹ mang thai, sự tăng lên của hormone beta hCG và estrogen sẽ làm giảm nhẹ hormone kích thích giáp trạng TSH, tuy nhiên sự thay đổi này sẽ không ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp của mẹ, trừ trường hợp mẹ có bệnh lý tuyến giáp (cường giáp) trước đó.
Mang thai bị cường giáp có sao không? câu trả lời là CÓ. Nguyên nhân và nguy cơ của nó đối với người mẹ như sau:
- Nhiễm độc giáp thoáng qua: tỷ lệ gặp 1 – 3% sản phụ mang thai, thường gặp ở các sản phụ đa thai, thai nghén nặng làm tăng βhCG máu quá mức. Triệu chứng thường gặp: sụt cân, không tăng cân, cảm giác thèm ăn, rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy hoặc táo bón), vã mồ hôi, tăng nhịp tim, khó ngủ, run tay, nôn nghén nặng,…
- Basedow trong thai kỳ: tỷ lệ gặp 0,4% – 1%, thường bệnh lý đã có từ trước và được phát hiện lần đầu khi mang thai. Đây là bệnh lý tự miễn dịch do cơ thể kích thích tuyến giáp hoạt động quá mức làm tăng hormon giáp T3, T4, FT3, FT4. Ngoài các triệu chứng kinh điển của Basedow, mẹ mang thai mắc bệnh có thể gây chuyển dạ sớm, sinh non, đái tháo đường thai kỳ, tăng huyết áp, tiền sản giật,… đặc biệt tăng nguy cơ cơn bão giáp lúc chuyển dạ.
- Một số nguyên nhân hiếm gặp khác như bướu giáp độc đa nhân, viêm giáp cấp/ mạn tính, u tuyến giáp,… đều gây nguy cơ tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, sản giật, suy tim sung huyết và cơn bão giáp.

2. Mẹ bị cường giáp có ảnh hưởng đến thai nhi như thế nào?
Cường giáp có ảnh hưởng đến thai nhi trong các trường hợp:
- Bệnh cường giáp Basedow ở người mẹ, dù được phát hiện trước khi mang thai hay trong quá trình thai kỳ nhưng không được kiểm soát và điều trị hiệu quả, đều có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi. Điều này làm tăng nhịp tim của thai nhi (>160 lần/ phút), thai nhỏ so với tuổi thai, nguy cơ sinh non, thai chết lưu hoặc các dị tật bẩm sinh khác.
- Cường giáp thai nhi hoặc cường giáp sơ sinh do nồng độ kháng thể kích thích tuyến giáp TRAb (trong bệnh basedow) quá cao. Khuyến cáo đo nồng độ kháng thể TRAb trong máu mẹ mắc bệnh Basedow khi phát hiện mang thai, nếu tăng thì lặp lại vào tuần thứ 18 – 22 của thai kỳ.
- Mẹ bị cường giáp khi mang thai sử dụng các loại thuốc kháng giáp tổng hợp như Methimazole, Carbimazole hoặc Propylthiouracil (PTU),… có thể đi qua hàng rào nhau thai và ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp của thai nhi. Hậu quả có thể gây ra các dị tật bẩm sinh và các biến cố thai kỳ (sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, thai chậm phát triển, động kinh ở trẻ sơ sinh, thóp đóng sớm, suy giáp,…)
3. Cách dự phòng nguy cơ cho mẹ và thai nhi nếu bị cường giáp khi mang thai
Cường giáp ảnh hưởng đến thai nhi và mẹ thông qua nhiều cơ chế. Do đó, việc chủ động dự phòng, theo dõi và điều trị đúng cách ngay từ sớm đóng vai trò quan trọng nhằm bảo vệ sức khỏe cho mẹ, đồng thời giúp thai nhi phát triển an toàn và ổn định trong suốt thai kỳ:
- Điều trị cường giáp chặt chẽ trước khi mang thai và trong suốt thời kỳ mang thai. Đối với cường giáp thoáng qua do thai kỳ không có chỉ định dùng thuốc, chức năng giáp sẽ trở về bình thường từ tuần thứ 14 -18, tuy nhiên phải có sự theo dõi của bác sĩ chuyên khoa để đề phòng các biến cố xảy ra. Đối với mẹ mang thai bị cường giáp Basedow cần theo dõi hormone giáp định kỳ.
- Chế độ ăn mẹ đầy đủ và cân bằng dinh dưỡng trong suốt thai kỳ. Sử dụng các loại thực phẩm giàu sắt, selen, kẽm (rau cải bó xôi, thịt bò, thịt lợn, các loại hạt,…); giàu vitamin A, vitamin D (cà rốt, khoai lang, xoài, mơ, súp lơ, củ cải đỏ, thịt lợn, gan động vật, nấm, các loại cá béo và ánh nắng mặt trời,…); thực phẩm giàu Omega-3 như cá hồi, hạt lanh,…

- Tránh các loại thực phẩm chứa nhiều iod làm tăng hoạt động của tuyến giáp, bao gồm: muối iod, rong biển, tảo bẹ, hải sản, cà phê,…
- Hạn chế các loại thực phẩm kích thích tuyến giáp tăng tiết thyroxin trong thời kỳ mang thai như: sữa tươi nguyên kem, bột gạo, bột mì, đường, thịt đỏ, các loại bơ thực vật, đồ uống có cồn,…
- Tầm soát các bệnh lý về tuyến giáp trước thai kỳ, hoặc tầm soát trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
Tóm lại, cường giáp khi mang thai có nguy hiểm không? Đây là bệnh lý có nhiều nguy cơ đối với cả mẹ và thai nhi. Tuy nhiên, khi được phát hiện sớm, theo dõi chặt chẽ và điều trị đúng phác đồ, phần lớn các biến chứng nguy hiểm hoàn toàn có thể phòng ngừa, giúp thai kỳ diễn ra an toàn hơn.












