Trang chủ » Sống khỏe » Bệnh tiết niệu » Tạo hình bể thận điều trị bệnh lý hẹp khúc nối bể thận-niệu quản

Tạo hình bể thận điều trị bệnh lý hẹp khúc nối bể thận-niệu quản

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản ngăn cản dòng nước tiểu từ thận xuống niệu quản gây giãn đài bể thận, thận ứ nước, thận suy. Tạo hình bể thận là phương pháp phẫu thuật loại bỏ đoạn chít hẹp bể thận – niệu quản, phục hồi sự lưu thông nước tiểu giữa bể thận và niệu quản.

1. Bệnh hẹp khúc nối bể thận – niệu quản

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản là một hiện tượng bất thường ở phần nối giữa bể thận và niệu quản. Sự chít hẹp này gây cản trở dòng nước tiểu từ thận xuống niệu quản. Nước tiểu bị tắc nghẽn làm bể thận bị ứ nước, giãn to. Nếu tình trạng này kéo dài, thận có nguy cơ bị hủy hoại hoàn toàn.

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản có thể xuất hiện tại một hoặc cả hai bên. Tuy nhiên, tỷ lệ hẹp bên trái cao hơn gấp 2 lần so với bên phải. Đây là bệnh lý thường gặp ở trẻ em khoảng 5 tuổi. Ở người lớn, bệnh thường được chẩn đoán trong độ từ 30-40 tuổi với tỷ lệ gặp ở nam giới nhiều gấp đôi nữ giới.

Hội chứng hẹp khúc nối bể thận – niệu quản do nhiều nguyên nhân khác nhau. Bệnh có thể do bẩm sinh; do mạch máu chèn ép vào niệu quản hoặc do niệu quản cắm vào bể thận ở vị trí bất thường; do không có lớp cơ trơn ở phần khúc nối bể thận – niệu quản; do các khối u xơ hoặc ảnh hưởng sau khi can thiệp ngoại khoa…

Bệnh tiến triển âm thầm và thường không gây các triệu chứng. Bệnh chỉ được phát hiện tình cờ khi siêu âm ổ bụng hoặc khi đã xuất hiện các biến chứng thận ứ nước lớn, thận suy. Trong một số trường hợp, người bệnh sẽ có một hoặc các triệu chứng như: đau mỏi lưng tái diễn, nhiễm trùng đường niệu tái diễn hoặc xuất hiện khối u bụng, tiểu máu, tăng huyết áp, sỏi thận…

Tìm hiểu về phương pháp tạo hình bể thận.

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản có thể xảy ra ở một hoặc cả hai bên

2. Vì sao cần phải điều trị hẹp khúc nối bể thận – niệu quản?

Hẹp khúc nối bể thận – niệu quản nếu không được phát hiện và điều trị có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như:

– Hình thành sỏi thận do nước tiểu bị lắng đọng chất cặn.

– Thận ứ nước, thận ứ mủ hoặc teo thận.

– Nhiễm trùng đường tiết niệu

– Suy thận cấp tính và mãn tính.

– Huyết áp cao làm tăng nguy cơ đột quỵ ở người bệnh.

Điều trị hẹp khúc nối bể thận – niệu quản gồm 2 phương pháp chính. Việc lựa chọn phương pháp nào cần căn cứ vào tình trạng bệnh lý của người bệnh. Hai phương pháp đó là:

– Nội soi niệu quản xẻ rộng chỗ hẹp: Thường sử dụng cho trường hợp bệnh ở mức độ nhẹ hoặc vừa, không nhiễm tĩnh mạch chèn ép niệu quản. Kỹ thuật này thực hiện qua đường tự nhiên là nội soi niệu quản ngược dòng hoặc bằng nội soi thận qua da.

– Phẫu thuật tạo hình bể thận chỉ định khi bệnh chuyển biến nặng. Người bệnh được phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở để cắt bỏ đoạn chít hẹp. Sau đó tiến hành khâu nối bể thận và niệu quản.

3. Đối tượng cần tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản

Tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản được chỉ định trong các trường hợp:

– Người bệnh hẹp khúc nối bể thận – niệu quản bẩm sinh do nguyên nhân bên trong hoặc bên ngoài khúc nối gây ứ nước tại thận.

– Người bệnh hẹp khúc nối bể thận – niệu quản thứ phát do xơ dính gây chít hẹp sau phẫu thuật (sỏi, tạo hình)

– Người bệnh hẹp khúc nối bể thận xuất hiện sỏi thận.

– Người bệnh hẹp khúc nối bể thận xuất hiện biến chứng.

Tạo hình bể thận được chỉ định khi thận ứ nước, ứ mủ do chít hẹp khúc nối bể thận - niệu quản

Tạo hình bể thận được chỉ định khi thận ứ nước, ứ mủ do chít hẹp khúc nối bể thận – niệu quản

4. Kỹ thuật tạo hình bể thận (kỹ thuật Hynes – Anderson)

Kỹ thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản được tiến hành theo các bước sau:

– Gây mê nội khí quản để vô cảm người bệnh. Đặt người bệnh nằm nghiêng có độn gối vùng thận.

– Tiến hành rạch da đường sườn thắt lưng vị trí ngay dưới xương sườn 12.

– Tách các lớp gân cơ vào phúc mạc sau tìm khúc nối bể thận – niệu quản. Nếu thận ứ nước quá to, tiến hành mở bể thận thoát nước để dễ tìm khúc nối bể thận – niệu quản.

– Cắt rời khúc nối bị hẹp và kiểm tra sự lưu thông của niệu quản; khâu nối bể thận và niệu quản bằng chỉ tiêu chậm.

– Đặt sonde JJ, đặt nòng niệu quản hoặc mở thận ra da tùy tình trạng bệnh.

– Kết thúc phẫu thuật, tiến hành cầm máu, rửa sạch và dẫn lưu hố thận bằng penrose, đóng vết mổ từng lớp bằng chỉ vicryl 3.0. Khâu trong da bằng catgut 4.0, băng vết mổ.

– Phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận niệu quản bằng phương pháp Hynes – Anderson có tỷ lệ thành công tới 95%.

Phẫu thuật tạo hình bể thận bằng phương pháp Hynes – Anderson cho tỷ lệ thành công tới 95%

Phẫu thuật tạo hình bể thận bằng phương pháp Hynes – Anderson cho tỷ lệ thành công tới 95%

5. Điều trị sau phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản

5.1. Diễn biến thông thường sau mổ tạo hình bể thận

– Sử dụng kháng sinh dự phòng nhiễm trùng vết mổ và giảm đau sau mổ.

– Thay băng vết mổ khi thấm dịch

– Rút ống dẫn lưu penrose hố thận khi không hoạt động.

– Rút nòng niệu quản từ 5-7 ngày sau mổ và kẹp ống Foley dẫn lưu thận ngay sau khi rút nòng niệu quản.

– Rút ống Foley dẫn lưu thận sau 2-3 ngày nếu người bệnh ổn định (không có các triệu chứng đau bụng, chướng bụng, sốt, tiểu đục). Ngược lại, nếu người bệnh không ổn định phải  tiếp tục dẫn lưu, điều trị nhiễm trùng và theo dõi cho đến khi ổn định.

– Trong trường hợp đặt sonde  JJ,  rút thông bằng nội soi sau 3 tháng.

– Thời gian người bệnh nằm viện khoảng từ 7 – 10 ngày.

5.2. Biến chứng sau phẫu thuật tạo hình bể thận

– Rò nước tiểu sau mổ: nên đặt ống thông nòng niệu quản bằng ống thông JJ và kiểm tra lại vị trí đặt ống thông.

– Nhiễm khuẩn đường niệu: điều trị bằng thuốc kháng sinh.

– Chảy máu: nếu chảy nhiều và kéo dài thì tiến hành phẫu thuật để cầm máu.

6. Lưu ý sau phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản

Sau khi thực hiện phẫu thuật tạo hình khúc nối bể thận – niệu quản, người bệnh cần lưu ý:

– Cần tiếp tục theo dõi chức năng thận sau phẫu thuật.

– Chụp hệ niệu cản quang đường tĩnh mạch 1 tháng và 1 năm sau mổ để kiểm tra khả năng lưu thông nước tiểu từ bể thận xuống niệu quản.

– Xây dựng chế độ ăn uống, sinh hoạt và lối sống lành mạnh, khoa học.

Phẫu thuật tạo hình bể thận được xem là tiêu chuẩn vàng trong điều trị hẹp khúc nối bể thận – niệu quản. Đây là phương pháp hiệu quả giúp cải thiện tình trạng thận ứ nước và đưa chức năng thận trở về bình thường.

Từ khóa:
Bài viết liên quan
Dịch vụ liên quan