Trang chủ » Sống khỏe » Bệnh tim mạch » Chẩn đoán và điều trị bệnh cầu cơ mạch vành

Chẩn đoán và điều trị bệnh cầu cơ mạch vành

Cầu cơ mạch vành là một dị tật bẩm sinh hiếm gặp, chỉ xảy ra ở 5% người bình thường. Đây là tình trạng một dải cơ tim từ 10 – 30mm, dày từ 1 – 10mm vắt ngang qua một đoạn động mạch, chui sâu vào lớp cơ tim thay vì chạy trên bề mặt quả tim. Bệnh có thể không gây bất cứ triệu chứng nào nhưng cũng có thể khiến người bệnh đối mặt với nguy cơ choáng ngất, tử vong do thiếu máu cơ tim. Vậy làm thế nào chẩn đoán và điều trị bệnh cầu cơ mạch vành một cách hiệu quả nhất? 

1. Các phương pháp chẩn đoán bệnh cầu cơ mạch vành

1.2 Chẩn đoán lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng ít xuất hiện trước năm 30 tuổi

Các bệnh nhân có cầu cơ mạch vành thường không có biểu hiện gì trước năm 30 tuổi. Theo thống kê, có đến 1/3 số bệnh nhân mắc bệnh này hoàn toàn không có triệu chứng, ngay cả khi tim không được cung cấp đủ máu và oxy. Nguyên nhân là vì khi người bệnh còn trẻ, các dải cơ tim vẫn còn mềm mại, không gây chèn ép, thít hẹp động mạch vành nên người bệnh không bị ảnh hưởng nhiều. Đồng thời, cơ thể người bệnh có thể thích ứng với tình trạng này trong suốt nhiều năm.

Nhưng theo thời gian, động mạch vành của bạn có thể bị xơ vữa, các dải cơ cũng mất dần mất tính đàn hồi. Tình trạng xơ vữa có thể gây hẹp và tắc động mạch vành. Đặc biệt nếu vị trí xơ vữa xảy ra ngay phía trên của cầu cơ động mạch vành thì người bệnh dễ xuất hiện các triệu chứng. Nguyên nhân là do các tác nhân gây co mạch do cầu cơ có thể xuất hiện trong quá trình xơ vữa. Các tác nhân đó bao gồm: nitric oxide nội mạc, endothelin 1 và men chuyển dạng angiotensin.

Trên 30 tuổi, người mắc bệnh cầu cơ mạch vành thường có các triệu chứng thiếu máu cơ tim

Trên 30 tuổi, người mắc bệnh cầu cơ mạch vành thường có các triệu chứng thiếu máu cơ tim

Các triệu chứng thường gặp

Các triệu chứng thường thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh này khá giống với triệu chứng thiếu máu cơ tim cục bộ, bao gồm: 

– Đau ngực thường xuyên: Bệnh nhân có thể cảm thấy đau tức, nặng ngực gần như suốt cả ngày. Mức độ đau có thể thay đổi tùy theo thời điểm, thường tăng lên khi thay đổi thời tiết hoặc khi lo lắng, căng thẳng.

– Đau thắt ngực:  Người bệnh có cảm giác ngực bị bóp chặt, đè nặng. Đau có thể lan ra cánh tay trái hoặc hàm, cổ, vai, lưng. 

– Khó thở, nhịp tim nhanh: Dấu hiệu này có thể xuất hiện đồng thời với các dấu hiệu trên.

Một số dấu hiệu khác không điển hình nhưng vẫn có thể gặp:

– Mệt mỏi không rõ nguyên nhân

– Rối loạn nhịp gây ra khi gắng sức

– Ngất

Nhiều trường hợp choáng ngất rất dễ dẫn đến đột tử. Lúc này, cần đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế ngay để được thăm khám và điều trị kịp thời.  

1.2 Chẩn đoán cận lâm sàng phát hiện bệnh cầu cơ mạch vành

Tuy các triệu chứng lâm sàng không điển hình nhưng bệnh cầu cơ động mạch vành vẫn có thể được phát hiện sớm và dễ dàng nhờ sự hỗ trợ của các chẩn đoán hình ảnh và một số chẩn đoán cận lâm sàng khác tại các chuyên khoa tim mạch. 

Một số phương pháp chẩn đoán bệnh cầu cơ tim bao gồm: 

– Điện tim gắng sức: Thường áp dụng khi người bệnh có dấu hiệu của thiếu máu cơ tim

Siêu âm tim: Phương pháp này có thể giúp phát hiện được đoạn cầu cơ động mạch vành. Không những vậy còn đánh giá được mức độ xơ vữa ở phía trước của cầu cơ, đánh giá mức độ hẹp động mạch vành (dựa vào kết quả đo dự trữ dòng chảy động mạch vành) có ảnh hưởng đến huyết động hay không. 

Chụp CT mạch vành là chẩn đoán hình ảnh giúp chẩn đoán chính xác bệnh cầu cơ động mạch vành

Chụp CT mạch vành là chẩn đoán hình ảnh giúp chẩn đoán chính xác bệnh cầu cơ động mạch vành

Chụp cắt lớp vi tính đa dãy (MSCT): Sử dụng phương pháp này có thể giúp bác sĩ tìm thấy hình ảnh chính xác và dấu hiệu của cầu cơ. Cụ thể, nếu xảy ra hiện tượng một đoạn động mạch bị ép trong thì tâm thu, bình thường trong thì tâm trương thì chứng tỏ bệnh nhân có cầu cơ mạch vành.

– Chụp động mạch vành qua da: Đây là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định cầu cơ động mạch vành. Chẩn đoán cho phép thấy được sự thay đổi của khẩu kính động mạch vành giữa thời kỳ tâm thu (cơ tim bóp) và thời kỳ tâm trương (tim nghỉ). Đặc biệt, dấu hiệu này có thể tăng lên nếu bệnh nhân được tiêm nitroglycerin động mạch vành.

2. Điều trị cầu cơ mạch vành

Cầu cơ mạch vành thường vô hại. Do vậy, hầu hết bệnh nhân không cần điều trị gì nếu như không có triệu chứng. Ở những bệnh nhân mắc bệnh cầu cơ mạch vành có triệu chứng thì tùy từng trường hợp sẽ có phương án điều trị khác nhau, chủ yếu là một trong số các biện pháp sau:

2.1 Điều trị nội khoa

Cho đến nay, điều trị nội khoa vẫn là phương pháp điều trị cầu cơ mạch vành và thường chỉ áp dụng khi người bệnh khi xuất hiện tình trạng thiếu máu cơ tim. Mục đích của việc điều trị này là giúp giảm nhẹ bệnh, đồng thời giải tỏa tâm lý hoang mang, lo lắng cho người bệnh. Các loại thuốc được sử dụng cho những người bệnh này thường là nhóm thuốc chẹn beta và thuốc chẹn kênh canxi. Bởi chúng giúp làm thư giãn cơ tim, hạ huyết áp và giảm tình trạng rối loạn nhịp tim.

Trong khi đó, một số thuốc thường được sử dụng trong điều trị bệnh động mạch vành như nitrates lại không nên dùng ở những bệnh nhân này.

2.2 Can thiệp để điều trị bệnh cầu cơ mạch vành

Nếu cầu cơ gây hẹp đáng kể ở động mạch vành và gây ra triệu chứng rõ ràng cho bệnh nhân thì phương pháp đặt stent động mạch vành có thể tiến hành nhằm mở rộng lòng mạch, giúp máu lưu thông dễ dàng hơn. Tuy nhiên, đặt stent động mạch vành có cầu cơ sẽ rất dễ xảy ra biến chứng do stent bị biến dạng, gãy, từ đó gây tái hẹp và huyết khối trong stent.

Bắc cầu động mạch vành chỉ được tiến hành trong những trường hợp cầu cơ gây hẹp động mạch vành rất nặng, điều trị bằng thuốc không đáp ứng

Bắc cầu động mạch vành chỉ được tiến hành trong những trường hợp cầu cơ gây hẹp động mạch vành rất nặng, điều trị bằng thuốc không đáp ứng

2.3 Phẫu thuật

Phẫu thuật là phương pháp chỉ được thực hiện khi người bệnh không đáp ứng với thuốc điều trị hoặc tình trạng bệnh tăng nặng. 

Có 2 phương pháp phẫu thuật được sử dụng là: bắc cầu động mạch vành (thay thế đoạn cầu cơ bằng một phần động mạch khác trên cơ thể) và cắt cầu cơ (dải cơ bắc ngang qua động mạch vành sẽ được cắt bỏ hoàn toàn). Tuy nhiên, 2 phẫu thuật này đều rất khó thực hiện và khả năng thành công không cao. Phẫu thuật cắt cầu còn có thể gây phình vách thất, thủng tim, chảy máu trong mổ. Do đó phương pháp này rất hạn chế sử dụng, thường chỉ được tiến hành ở những bệnh nhân rất nặng.

Như vậy, bệnh cầu cơ mạch vành không phải là một dị tật nguy hiểm nhưng tốt nhất người bệnh vẫn nên phát hiện sớm bằng những chẩn đoán chính xác tại các cơ sở y tế uy tín. Nhờ đó có những phương án dự phòng và điều trị phù hợp, tránh bệnh diễn tiến xấu gây ảnh hưởng tới sức khỏe và tính mạng. 

Từ khóa:
Bài viết liên quan
Dịch vụ liên quan